TIỂU SỬ TIẾN SĨ TRẦN ĐÌNH SƠN

Tiến sĩ Trần Đình Sơn, hiệu Tiên Châu, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1939 (14 tháng 7 năm Kỉ Mão) tại Bình Định – khai sinh trên giấy tờ ngày 1 – 9 -1941, là con thứ 12 (thứ Tam) của cử nhân Hán học, Thương tá tỉnh vụ Ninh Thuận Trần Đình Tân.
Thuở nhỏ học cấp 1 ở trường làng Cảnh Vân, cấp 2 học ở trường Trung học Võ Tánh (1957) học ở Nha Trang 1 năm (1958) ở Collège Francaise Tourane, vào Sài Gòn học trường Chu Văn An (1958 – 1959), thi tú Tài tại Huế. Đậu cử nhân Vật lí năm 1964.
Ông du học ở Pháp từ năm 1964, học Đại học Khoa học Paris, và thực tập ở Trung tâm nguyên tử Sarclay, đậu tiến sĩ đệ tam cấp năm 1967 (Thèse  3 ème) và đậu tiến sĩ quốc gia nguyên tử lực (Thèse d’Etát ) của Cộng hòa Pháp năm 1970. Ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Hồng Điệp và sinh hạ được ba con gái Trần-đình Chu-tước – 1970 (Christiane), Trần-đình Kim-tước – 1972 (Patricia) và Trần-đình Nam-tước – 1974 (Aurélie).
Ông là một trong những nhà khoa học hàng đầu của Pháp trong lĩnh vực nghiên cứu nguyên tử hạt nhân ứng dụng cho y học, có nhiều sáng chế phát minh và tham gia nhiều hoạt động khoa học tầm quốc tế, được nhận bằng Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học NewYork. Ông là Trưởng phòng nghiên cứu hạt nhân của Viện Sarclay (Pháp). Sau khi nghỉ hưu ông tiếp tục được mời làm Cố vấn nghiên cứu nguyên tử lực của Viện Sarclay.
Sau một thời gian bệnh nặng, ông đã từ trần tại Pháp vào lúc 2 giờ sáng (giờ Paris) ngày 14 tháng 7 năm 2012, hưởng thọ 74 tuổi. Theo nguyện vọng của ông, gia đình sẽ đưa về an táng tại quê nhà, núi Thơm Cảnh Vân, Phước Thành, Tuy Phước, Bình Định.
Tuy sinh sống ở Pháp nhiều năm, nhưng tấm lòng của ông lúc nào cũng nặng tình với quê cha đất tổ. Năm 1977 lần đầu tiên ông trở về nước và làm việc với Viện Vật lý quốc gia, theo lời mời của giáo sư viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu. Sau đó nhiều năm ông liên tục về Việt Nam làm việc với Viện Vật lý, Viện hóa học, các trường Đại học ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Bình Định, giảng dạy cho đội ngũ nghiên cứu, bác sĩ, tham gia hội đồng bảo vệ luận án tiến sĩ, thạc sĩ, đào tạo các nhà khoa học cho Việt Nam.
Đối với bà con dòng tộc, từ năm 1993, ông đã có sáng kiến vận động thành lập Quỹ học bổng của Trần tộc Đại tôn Từ đường, hỗ trợ biểu dương các con cháu họ Trần học giỏi vượt khó. Đến nay, Quỹ học bổng đã có sự tham gia đóng góp của nhiều bà con trong dòng tộc và là một điểm sáng trong phong trào khuyến học của Việt Nam và tỉnh Bình Định nói riêng. Ông thường xuyên răn dạy con cháu trong tộc họ giữ gìn tình nghĩa, yêu thương nhau, cùng nhau phát triển dòng tộc, làm rạng danh họ Trần ở Phước Thành.
Nguyện ước của ông lúc cuối đời sẽ được về quê hương, góp công sức xây dựng dòng tộc, dạy dỗ cho các lớp con cháu có thêm nhiều người giỏi giang thành đạt. Đáng quý thay tấm lòng của một người luôn hướng về cội nguồn.
Là người đậu đạt cao nhất của dòng tộc và của đời thứ 9 họ Trần ở Cảnh Vân, nhưng lúc nào ông cũng khiêm tốn hòa nhã, cởi mở chan hòa với các bậc tôn trưởng, anh chị em, bà con họ hàng. Cuộc sống giản dị thanh cao, luôn cần mẫn đóng góp trí tuệ và tâm lực cho đất nước quê hương. Đáng khâm phục biết bao!
Ông là niềm tự hào của Trần tộc Cảnh Vân, Phước Thành, Tuy Phước, của quê hương Bình Định và của đất nước Việt Nam.
THÔNG TIN VỀ LỄ VIẾNG VÀ AN TÁNG TIẾN SĨ QUỐC GIA KHOA HỌC (CH PHÁP) TRẦN ĐÌNH SƠN TẠI QUÊ NHÀ:
16h15 phút ngày 28/7/2012 đưa di hài về phi trường Tân Sơn Nhất, lưu tại phòng lạnh Bệnh viện Thống Nhất, TP. Hồ Chí Minh một đêm.
Sáng 28/7/2012 chuyển về phi trường Phù Cát, đưa về tại nhà ở Cảnh Vân, Phước Thành, Tuy Phước, Bình Định. An táng vào chiều 28/7/2012 tại nghĩa trang Núi Thơm, làng Cảnh Vân.
Đăng tải tại Dr. Trần Đình Sơn, Trần tộc Cảnh Vân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

VĂN PHÁT KHOA HỌ TRẦN

1. TRẦN HỮU TRỌNG (đời thứ 6) con cụ Tiền Hiền TRẦN HỮU ĐẠO, phát khoa Tú Tài tại khoa thi Hương năm Mậu Ngọ 1838.

2. TRẦN HỮU GIA em ruột cụ TRẦN HỮU TRỌNG đậu Tú tài khoa thi Hương Tân Dậu 1861.

3. TRẦN HỮU NHAM hiệu TƯỜNG TRAI (đời thứ 7) con cụ Kỳ Lão TRẦN HỮU PHONG đậu Tú tài khoa Nhâm Ngọ 1882. Trong phong trào Văn thân được cử làm Tán tương quân vụ trong Hương Sơn quân thứ của Mai Xuân Thưởng.

4. TRẦN TRỌNG GIẢI hiệu HƯƠNG TIỀU (đời thứ 8) con cụ Tú Cả TRẦN HỮU NHAM. 1910 (Duy Tân thứ 4) Hội đồng Tỉnh tòa sát hạch, ông đậu Giáo sư được bổ về dạy tại trường Cảnh Vân. 1911 ông được ra Huế học tại trường Quốc Học Sư phạm, thi đậu Sư phạm và lãnh bằng Tốt nghiệp. Đậu Tú tài khoa Ất Mão (1915) đồng khoa với em ruột là Cử nhân TRẦN ĐÌNH TÂN. 1917 được tưởng thưởng Hàn lâm viện Đãi chiếu. Nguyên Nghị viên Hội đồng quản hạt tỉnh Bình Định. Tháng 2 âm lịch Bảo Đại nguyên niên làm Phó Văn chỉ và 6 năm sau làm Chánh Văn chỉ Tuy Phước.

5. TRẦN ĐÌNH TÂN, tự hiệu LỮ TIÊN, biệt hiệu HÀ TRÌ (đời thứ 8), con cụ Tú Cả TRẦN HỮU NHAM, đậu Cử nhân khoa Ất Mão (1915), phát văn quan, làm đến Thương tá tỉnh vụ tỉnh Ninh Thuận, hàm Trung Nghị đại phu. Làm hội trưởng Văn chỉ Tuy Phước (1956) và được bầu làm Hội trưởng Hội Khổng học Bình Định (1956 – 1961). 1962 được mời làm Hội trưởng danh dự Hội Khổng học Bình Định.

Đăng tải tại Trần tộc Cảnh Vân | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Disappointed!

It seems so worse for me to understand my son! He said that he is a grown-man, but I see him as a childish person!

So, I am waiting for a some time that he recognize what is wrong in his thinking!
Đăng tải tại Trần Hà Nam | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chuyện trò với Mẹ

(Bài viết cách đây tròn 2 năm – viết trong những ngày đau buồn nhất. Gửi cho vuongquocnhi.vn không nhằm để dự thi mà như một kỉ niệm buồn – link: http://vuongquocnhi.vn/n/1/86/3554/chuyen-tro-voi-me)

Chuyện trò với Mẹ

 

Người gửi: Trần Hà Nam

Nghề nghiệp: Giáo viên Văn trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Bình Định

Địa chỉ: Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, 02 Nguyễn Huệ, Quy Nhơn, Bình Định Email: tranhanam@yahoo.com

Bây giờ đã sang ngày 1 tháng 12, ngày đầu tiên của tháng cuối cùng năm 2008. Đã sang một tuần mới rồi Mẹ ơi! Hôm nay trời trở lạnh, con nhớ những ngày còn Mẹ, đi dạy về cứ mỗi buổi chiều là lại ghé thăm Mẹ. Vậy mà từ hôm con ở Hà Nội về đến nay, con mới chỉ ghé về quê, về núi Thơm ghé thăm Mẹ đúng một lần. Con bất hiếu quá! Dù rằng ngày trở về là trời mưa tầm tã gần một tháng ròng, nhưng cũng có hôm trời nắng lên. Dù cho con biện minh rằng mình bận rộn quá, nhưng có những khi chẳng làm được gì, quẩn quanh hết buổi.

 

Mẹ ơi, con nhớ ngày 5 tháng 11 là ngày Mẹ bị bệnh viện trả về nhà năm ngoái. Những ngày tháng ấy thật kinh hoàng và đầy ám ảnh đối với cả nhà ta. Mẹ đã cầm cự suốt hơn 5 tháng trời, Mẹ đón cái Tết cuối cùng năm Mậu Tí, đúng vào sáng mồng Một, với câu hỏi duy nhất: “Sao chưa về quê?”, để rồi sau đó cứ lịm đi trong cõi vô thức. Những ngày ấy, đã bao đêm chúng con thức canh Mẹ, nhìn Mẹ nằm mà lòng đau như cắt! Biết rằng qui luật “Sinh lão bệnh tử” là không thể cưỡng nổi, thế nhưng nhìn Mẹ trong cơn thập tử nhất sinh mà đành bất lực, rồi Mẹ lặng lẽ ra đi khi cả con cả anh đều không có nhà, khi chúng con về thì không thể làm gì nữa rồi!

 

Nước mắt ngày ấy con khóc đã cạn, con lại phải tiếp tục những ngày học mà day dứt Mẹ không kịp chứng kiến con thành công. Cả một chặng đường đời, con có Mẹ luôn là chỗ dựa tinh thần. Vậy mà khi con trở về, bỗng cảm thấy bao nhiêu hụt hẫng. Ngày bảo vệ luận văn thạc sĩ, con bần thần…

 

 

 

Con cũng đã trở về nơi cũ, Hà Đông nơi Mẹ con ta sống, nhớ về thuở ấu thơ mà rưng rưng nước mắt. Con cũng đã về lại Hải Phòng quê ngoại, con đã ngủ lại ở nhà chị để chị em có dịp nói về Mẹ. Con tìm cảm giác thân thương để tự nhủ Mẹ còn ở đâu đó, đang dõi theo con. Con nói chuyện với anh em bạn bè về Mẹ…

 

Nhưng khi quay về thắp nén hương lên bàn thờ báo hiếu cho Mẹ, con lại nghẹn lòng. Cha vui vì con đã làm người nở mày nở mặt vì nối tiếp truyền thống dòng họ hiếu học, đỗ đạt. Nhưng con thấy mình như chợt già đi bao nhiêu, vì con không còn được làm đứa bé ôm lấy vai Mẹ nữa rồi. Con không muốn mình ủy mị, nhưng từ hôm về nhà đến nay hơn một tháng, con vẫn cứ chông chênh chưa lấy lại thăng bằng. Nhớ lại bao điều hơn một năm qua, con vẫn cứ buồn. Mọi người hỏi thăm, chia vui, đòi khao… nhưng con có lòng dạ nào nâng ly hể hả vì chút thăng tiến cỏn con này. Con vẫn là con của Mẹ, mà Mẹ đã xa con hơn nửa năm rồi. Con đã trào nước mắt khi nằm mơ thấy Mẹ về bên anh em con, chúng con đứa nào cũng nằm mơ thấy Mẹ.

 

Mẹ không còn ở bên để chăm chút, con mới thật sự cảm thấy mình lớn và cần phải sống mạnh mẽ hơn, bản lĩnh hơn để có thể tự quyết định mọi điều. Vắng Mẹ, nhà chỉ còn những người đàn ông tự xoay sở, tự chăm lo bản thân. Cha suy sụp nhiều sau ngày Mẹ đi, nhưng Cha đã gượng dậy vững chãi như cột trụ vững chãi và anh em chúng con bây giờ cũng phải thể hiện đúng là những cột trụ gia đình.

 

Mẹ ơi! Mẹ hãy an lòng. Con sẽ sống tốt, sống mạnh mẽ.

 

Bây giờ, nhìn trong nhà, con mới chợt nhận ra cái còn đang thiếu: một tấm ảnh Mẹ. Ngay hôm nay, chúng con sẽ phóng to ảnh Mẹ, để Mẹ có thể đi về thăm các con cháu ở mỗi nhà thường xuyên hơn. Trời mùa đông càng lúc càng lạnh, có Mẹ ở trong nhà chúng con sẽ cảm thấy ấm áp hơn.

HÀ ĐÔNG – đường về tuổi thơ…
—————————————————————————————————————————

Thân chào quý độc giả của Vuongquocnhi.vn!
BBT Cuộc thi viết “Gửi lời yêu thương”Vuongquocnhi.vn đã nhận được hơn 200 bài viết của bạn đọc gửi về trong tuần qua. Chất lượng các bài viết khá đồng đều, mỗi bài viết đều gợi lên những góc khuất tâm trạng, có yêu thương, hạnh phúc và cả nỗi tiếc nuối, muộn phiền…  Tuy nhiên, nội dung các bài viết vẫn sa đà vào tình trạng “ngựa quen đường cũ”, chưa tạo nên sự mới mẻ. Hy vọng rằng trong những tuần cuối cùng, Cuộc thi sẽ nhận được nhiều bài viết có độ bứt phá mạnh mẽ hơn.
BTC Cuộc thi viết “Gửi lời yêu thương” xin vui mừng thông báo giải thưởng là một món quà trị giá 200.000 đồng dành cho 01 bài viết xuất sắc nhất trong tuần 6 đã thuộc về:

Bài viết có tựa đề: Chuyện trò với Mẹ

 

Tác giả: Trần Hà Nam

 

Nghề nghiệp: Giáo viên Văn trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Bình Định

Địa chỉ: Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, 02 Nguyễn Huệ, Quy Nhơn, Bình Định
Email: tranhanam@yahoo.com

 

Chuyện trò với Mẹ là một cuộc trò chuyện thú vị. Tâm trạng day dứt tiếc nuối khôn nguôi của người con mất mẹ làm câu chữ như muốn khóc. Quy luật “Sinh lão bệnh tử” là một trong những nỗi lo lớn của những người làm con. Bởi năm tháng trôi đi, những người cha, người mẹ sẽ ngày một “gần đất xa trời” và đến một ngày nào đó cha mẹ sẽ bất ngờ rời xa ta mãi mãi. Sao mà không buồn, không xót khi những người mang phận làm con không thể kéo dài niềm hạnh phúc được phụng dưỡng, báo hiếu cha mẹ – những người đã có công sinh thành, dưỡng dục, chịu bao cay đắng, nhọc nhằn để đem đến cho họ những điều tốt đẹp nhất?

 

Bài viết không cuốn hút lòng người ở nội dung hay hình thức nghệ thuật mới mà nó “đánh động” người ta ở tấm lòng. Những xúc cảm chân thành làm nên nỗi nhớ da diết, niềm khát khao được ủ ấm trong vòng tay người mẹ tảo tần phải sớm ra đi vì bệnh tật và sự tiếc nuối khi không có mẹ ở bên để chứng kiến những giây phút con mình tỏa sáng, làm rạng danh dòng tộc.

 

Chi tiết cuối cùng tác giả đề cập đến là một tấm ảnh người Mẹ còn thiếu trong nhà đã khéo gợi người đọc nghĩ đến đời sống tâm linh gần gụi của người Việt. Câu chuyện bỗng hư ảo như một cuộc đối thoại tâm linh… Và cái cách mà tác giả nói với người Mẹ thân yêu của mình: “Ngay hôm nay, chúng con sẽ phóng to ảnh Mẹ, để Mẹ có thể đi về thăm các con cháu ở mỗi nhà thường xuyên hơn” khiến lòng người thêm ấm áp. Có Mẹ, hạnh phúc của con mới tràn đầy. Mẹ đã lui về thế giới bên kia nhưng mẹ vẫn còn “đi về” thăm chúng con, đi về trong tâm tưởng, trong giấc mơ, và biết đâu còn có một đời sống tâm linh hiện hữu trong thế giới thực?

 

Phải chăng tác giả luôn tin vào một điều vô hình nào đó? Dù thật hay không thì bạn hãy cứ tin nhé! Tin để biết rằng mình đang sống để yêu thương từng ngày, từng giờ…

 

 

BTC xin chân thành cám ơn tất cả các quý độc giả đã nhiệt tình ủng hộ chương trình. Rất mong Cuộc thi “Gửi lời lời yêu thương” sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm tham dự của các bạn trong những tuần tiếp theo. Xin trân trọng cảm ơn!

 

Bài dự thi của các bạn xin gửi về hòm thư của Vuongquocnhi.vn (Công ty Viễn thông Không dây VTC – trực thuộc Tổng công ty truyền thông đa phương tiện VTC): vuongquocnhi@vtc.vn
Đăng tải tại Trần Hà Nam | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bây giờ đến lượt Facebook

Mạng cộng đồng Việt thì èo uột. Facebook thì bị chặn từ VNPT và FPT. Còn hôm nay thì cả VIETTEL cũng chặn nốt? Không quản được thì cấm, đó là cách làm chả hay ho gì! Chán đến nỗi chả muốn viết gì thêm trên mọi blog.

Đăng tải tại facebook | %(count) bình luận

Ngụy biện của một môn đồ thuốc lá

Ngày 01.01.2010! Một ngày khủng khiếp bắt đầu một chuỗi dài khủng khiếp! Hỡi ôi, từ nay các môn đồ thuốc lá bị buộc phải từ bỏ niềm đam mê của chính mình! Hỡi ôi, thuốc lá ơi, chẳng lẽ từ nay ta phải xa em!?
Tại sao người ta phải cấm thuốc lá nhỉ? Khi mà những lý do đưa ra chưa đủ sức thuyết phục mình!
Bảo rằng: thuốc lá gây hại cho sức khoẻ, sức khoẻ của chính ta và của những người xung quanh! Bảo rằng đó là nguyên nhân gây ra ung thư phổi, tốn kém tiền bạc thời gian! Bảo rằng văn minh hiện đại thì phải bỏ thuốc lá! Nghĩa là cả trăm nghìn lý do khác nhau!
Người ta thấy cái hại của hút thuốc lá mà chưa nhìn thấy hết những cái lợi của nó, chả thế mà biết bao nhiêu hình ảnh lý tưởng đã từng được tạo nên từ hình ảnh người hút thuốc đó sao? Thuốc lá từng đi vào thơ văn làm rung động bao nhiêu trái tim. Từ hình ảnh lãnh tụ trong thơ Tố Hữu:
Bác Hồ đó ung dung châm lửa hút
Trán mênh mông thanh thản một vùng trời!
cho đến những câu thơ đã thăng hoa thành nhạc:
Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ lòng mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói xanh bay lên cây
(Chiều – Hồ Dzếnh)
Chưa hết, ông thi sĩ này còn có những câu tình tứ biết bao:
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Để lòng buồn, anh dạo khắp trong sân
Ngó trên tay điếu thuốc cháy lui dần
Anh nói khẽ: Gớm, sao mà nhớ thế!
(Ngập ngừng)
Đấy! Thuốc lá làm thăng hoa bao cảm xúc thơ nhạc còn gì!

Phim ảnh cũng góp phần làm người ta mê thuốc lá nữa: ai mà chẳng ngây ngất với hình ảnh chàng cao bồi ngậm điếu thuốc Malboro hay chẳng mê mẩn chàng lãng tử Huỳnh Hiểu Minh ngậm lệch điếu thuốc trên môi trong phim BếN Thượng Hải? Nếu những chàng lãng tử ấy không hút thuốc, làm sao diễn tả nội tâm? Còn nữa, truyền hình trực tiếp đội tuyển Việt Nam, giờ phút căng thẳng nhất, hình ảnh huấn luyện viên – thầy Tô rít thuốc liên tục làm người ta thán phục, vì ông nhờ thuốc đã giúp tuyển Việt Nam chiến thắng!
Bỏ thuốc gây nguy cơ béo phì, huyết áp cao có khi còn “đi” nhanh hơn là người hút thuốc!  Lúc đó có khi đổ tiền của vào còn tốn kém gấp mấy lần số tiền dành dụm được nhờ không hút thuốc! Và buồn làm sao khi vào quán xá,uống rượu bia hay nhâm nhi cà phê, thiếu điếu thuốc thì đời mất đi bao hương vị.
Không hút thuốc, sẽ làm giảm thu nhập của các nhà máy thuốc lá, những người trồng thuốc lá, gây thiệt hại kinh tế cho ngân sách Nhà nước tính ra có khi lenđếnn cả ngàn tỷ đồng! Và ta cảm thấy có lỗi lớn không quan tâm đến đồng loại biết bao. Thử nhìn sang nước bạn Singapore, một gói thuốc họ làm ra,đóng dấu thuế quan, bán trong thị trường nội địa, họ trân trọng sức lao động của công nhân và quản lý thị trường, cảnh sát… nên tính một gói lên tới 11, 12 đô la Singapore, ai hút thuốc cũng cảm thấy vui lòng vì giúp đỡ đồng bào họ, còn ai không hút chẳng qua vì họ còn … nghèo quá thôi, không đủ tiền mua bao thuốc! Ở ta, thuốc nhiều, rẻ mà còn cấm thì các bà bán thuốc biết bán cho ai kiếm tiền đi chợ?
Hỡi ôi, có ai thấu nỗi niềm của môn đồ thuốc lá, ai có thể chỉ ra tác hại của thuốc lá rõ ràng, kẻ hút thuốc này sẽ vui vẻ bỏ thuốc không hề ân hận! Hehe!

Đăng tải tại Tản mạn | Thẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bài đăng lucbat.com

Giá trị nhân văn trong ca dao – dân ca (29/09/2009)

Ngay từ ấu thơ, ca dao đã gắn với cuộc đời của mỗi chúng ta. Những lời hát, điệu ru lớn dần theo năm tháng. Ca dao – tiếng nói trữ tình dân gian trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người. Giống như tất cả các thể loại của văn học, ca dao cũng hướng đến đối tượng trung tâm là con người, khám phá, phát hiện những vẻ đẹp trong cuộc sống con người. Với người bình dân, tình và nghĩa luôn quyện chặt làm nên đời sống tinh thần phong phú và sâu sắc.

Trong khi thổ lộ tâm tình – gắn với cuộc sống lao động, sản xuất, sinh hoạt, đấu tranh xã hội và quan hệ tình cảm, ca dao luôn hướng về con người – nhân dân. Những câu hát phản ánh đầy đủ hiện thực cuộc sống và thế giới tâm hồn của người bình dân. Đời sống vật chất và tinh thần ấy hiện lên qua những rung cảm mãnh liệt, tinh tế đa dạng, độc đáo và sâu sắc, tô đậm thêm vẻ đẹp con người, bộc lộ chất nhân văn cao cả. Nói đến chất nhân văn trong ca dao là nói đến vẻ đẹp con người cả hình thức lẫn nội dung, từ bên ngoài đến bên trong, từ hiện thực đến tâm hồn, là Con Người viết hoa. Chất nhân văn đem đến nhận thức và rung độngvề con người, theo khuynh hướng ca ngợi, trân trọng, thương yêu, tin tưởng, bảo vệ con người và chống lại tất cả các thế lực xấu xa thù địch với con người. Đặc biệt, trong bất kì hoàn cảnh nào, phẩm giá, nhân cách luôn được đề cao.

Chất nhân văn trong ca dao gắn với quan niệm về con người của người bình dân, thể hiện ý thức và tình cảm của người bình dân, gắn với một quan niệm khoẻ khoắn, lành mạnh, trong sáng của chính người lao động. Là quá trình tự nhận thức bản thân của người bình dân trong hoàn cảnh cuộc sống vất vả, chịu đựng nhiều nỗi bất bình, tủi nhục, đắng cay vẫn giữ được bản chất tốt đẹp, tình nghĩa đậm đà.

Trước hết, đó là vẻ đẹp con người trong mối quan hệ với tự nhiên: con người bao giờ cũng là trungtâm của những vẻ đẹp tự nhiên, đem lại sức sống và nét hài hoà cho thiên nhiên vũ trụ. Thiên nhiên trong ca dao bao giờ cũng được mô tả ở nét tinh tế, gợi cảm và trữ tình nhất, gắn với cảm quan thẩm mĩ dân gian cụ thể, tinh lọc. Thậm chí có những bài chỉ tả cảnh nhưng cũng giúp nhận ra tấm lòng với thiên nhiên, sự gắn bó con người với thiên nhiên.

Tiếp đến là vẻ đẹp con người trong các quan hệ cộng đồng, quan hệ xã hội: nền tảng xã hội là bất công, những xung đột giữa các giai cấp đối kháng – kẻ thống trị và người bị trị. Vì vậy, ca dao là sự dồn nén của tinh thần đấu tranh, sức phản kháng mạnh mẽ của người bình dân. Sức sống con người bộc lộ ở nét cứng cỏi trong nhân cách, không chịu khuất phục trước hoàn cảnh, luôn tìm cách vượt lên những áp lực, định kiến xã hội, chiến thắng số phận, tin tưởng tương lai và đứng về phía lẽ phải. Chất nhân văn bộc lộ rõ nhất trong lao động sản xuất và đấu tranh xã hội: cần cù, bền bỉ, nhẫn nại, luôn ý thức rõ giá trị của chính mình. Đó là tầm vóc vĩ đại của nhửng con người bình thường.

Không những thế, vẻ đẹp nhân văn còn bộc lộ trong những quan hệ riêng tư, gắn kết con người với con người, đi sâu vào đời sống tình cảm của con nguời. Vẻ đẹp ấy hiện lên đằm thắm, nồng hậu, trọn vẹn cả hai mặt nghĩa và tình. Tinh thần trọng nghĩa khinh tài, quan niệm đạo lí thủy chung được đề cao trong những mối quan hệ gia đình, tình làng nghĩa xóm… giữa những người cùng chung cảnh ngộ. Ca dao là tiếng lòng tha thiết, làm đẹp thêm tâm hồn con người trongnhững ân tình nhắn nhủ hướng về quê hương, những con người cùng tâm tư, đồng điệu về cảm xúc. Từ đó, ca dao tạo nên những cung bậc trạng thái, cảm xúc uyển chuyển, đa dạng diễn tả tâm hồn người bình dân, hướng tới những giá trị ổn định, vững bền: thương người, tương thân tương ái, đoàn kết.

Đặc biệt, vẻ đẹp con người trong mối quan hệ với bản thân tạo nên tiếng nói nội tâm thầm kín và mãnh liệt nhất, luôn thể hiện tấm lòng nhân hậu, vị tha, hướng đến cái cao cả hoàn thiện. Vẻ đẹp đáng quí ở cái hồn nhiên chân thật, mạnh mẽ đầy cá tính, giản dị bộc trực. Bên cạnh đó là sự bay bổng của trí tuởng tượng ắp tràn ước mơ, khát vọng sống của người lao động.

Giá trị của chất nhân văn trong ca dao: giúp người đọc khám phá những vẻ đẹp hiện thực cuộc sống bình thường, làm phong phú nhận thức của con người, nâng cao đời sống tinh thần và bồi đắp tâm hồn con người ngày càng tốt đẹp hơn. Chất nhân văn là kết tinh, hội tụ giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, tạo nên sức cuốn hút, hấp dẫn mọi thế hệ, là sự gắn kết mạch nguồn dân tộc từ quá khứ đến tương lai.

Theo tác giả Trần Hà Nam

Đăng tải tại Trần Hà Nam | Bạn nghĩ gì về bài viết này?